Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2016

Mùa dâu da xuống núi

(TTO) - Múi dâu da mọng nước ngọt lịm pha vị chua dịu tan dần trong miệng, ăn một múi rồi muốn... ăn thêm múi nữa. Hương vị núi rừng như thấm đẫm vào từng múi dâu da làm ai cũng mê mẩn.

< Cây dâu da với những chùm quả ửng đỏ.

Tháng 8 âm lịch, núi rừng miền tây Quảng Ngãi phủ màn sương bàng bạc, báo hiệu đất trời vào thu. Giữa màu xanh ngút ngàn của cây lá là những chùm dâu da đất ửng đỏ hay trắng ngà bám vào thân cây cổ thụ vươn thẳng lên trời xanh.

< Một phụ nữ dùng xe máy chuyển lâm sản về xuôi (bao chứa dâu da đặt phía trước).

Mùa thu hái dâu da bắt đầu từ đầu thu cho đến tiết chớm đông, khi những cơn gió se lạnh lang thang trên núi đồi. Quả dâu da là sản vật của núi rừng được đồng bào dân tộc thiểu số trèo lên cây, đưa tay hái lấy rồi dùng gùi chuyển về nhà trong niềm reo vui của trẻ thơ.
Dulichgo
Cùng với các loại lâm sản, dâu da được những người buôn bán hàng hóa giữa đôi miền xuôi - ngược vận chuyển về xuôi trên những chiếc xe máy vượt qua những chặng đường rừng chông chênh dốc núi.

< Chùm dâu da là món quà yêu thích của trẻ thơ.
Dulichgo
Dâu da xuống núi, vào chợ nằm lặng lẽ, khiêm nhường bên những loại cây trái khác. Chùm quả dâu da được mọi người chuyền tay nhau để đón nhận hương vị núi rừng với mức giá mỗi ký chỉ vài ngàn đồng.

Dâu da đất có hai loại đỏ và trắng. Dùng tay bóc lớp vỏ mịn màng bên ngoài lộ ra những múi dâu mọng nước trông thật bắt mắt.

Múi dâu da có vị ngọt lịm lẫn với chút chua dịu dần tan trong miệng, kích thích vị giác muốn ăn thêm múi nữa. Vì vậy nhiều người mỗi lần ăn đến vài ký dâu da mới thỏa lòng.

< Dâu da đất.
Dulichgo
Thuở nhỏ, mỗi lần lũ trẻ con chúng tôi được mẹ mua cho vài chùm dâu da thì hôm ấy là đại tiệc. Cả bọn chia nhau từng trái dâu da, háo hức bóc vỏ bỏ vào miệng ăn ngon lành. Sau đó, chúng tôi còn chia nhau muối hạt, bỏ vào lòng bàn tay để ăn cùng với lớp vỏ vừa bóc trước đó. Vỏ dâu da có vị chua lẫn vị chát quyện với vị mặn của muối lưu mãi nơi đầu lưỡi.

Giờ những chùm quả dâu da vẫn ánh lên niềm vui trong mắt trẻ, dịu dàng trên đôi môi thiếu nữ và đưa tâm hồn người già trở về miền ký ức tuổi thơ.

Không nổi tiếng như những sản vật khác, nhưng hương vị dâu da sẽ làm cho thực khách thỏa lòng khi được thưởng thức. Dâu da cũng sẽ là món quà đầy ý nghĩa dành tặng bạn bè phương xa để hiểu và thêm yêu đất và người Quảng Ngãi.

Theo Minh Kỳ (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

Huế – Khe Lạnh, điểm đến không phải ai cũng biết

Cách trung tâm thành phố Huế không xa, chỉ hơn 30km và sau 1 giờ đồng hồ đi xe máy theo hướng Tây Nam là đến nơi. Khe Lạnh là một thác nước nhỏ, nước chảy quanh năm, nằm trong khu vực lòng hồ của thủy điện Bình Điền – thị xã Hương Trà – tỉnh Thừa Thiên Huế.

Cung đường chinh phục khá đơn giản bằng xe máy hoặc ôtô. Bạn có thể chọn cách di chuyển theo tuyến tham quan chùa Thiên Mụ, Văn Thánh rồi rẽ lên hướng đường tránh Huế, rồi theo tuyến đường lên xã Bình Điền. Hoặc tuyến đường Minh Mạng, ngang qua đồi Thiên An, lăng Khải Định, thánh tích tượng Phật Bà Quan Âm, rễ lên cầu Tuần. Để tránh lạc đường, bạn cần chú ý đến chợ Bình Điền thì rẽ trái ngay và hỏi đường lên đập thủy điện Bình Điền.

Chuẩn bị những đồ dùng cần thiết cho chuyến đi:
– Phao cứu sinh hoặc áo phao (vì ở đây chưa có dịch vụ du lịch nên cư dân không trang bị khi đi trên lòng hồ).
– Nước uống – các loại thức ăn nhanh như: bánh mỳ, thịt xông khói, rau củ quả các loại (vì bơi,  tắm xong bạn sẽ rất đói, do ở đây chưa có dịch vụ ăn uống).
Dulichgo
– Vitanmin C (loại 90k hộp) để cơ thể chóng mất nước trong quá trình đi bộ.
– Bộ đàm nếu có (bởi vì ở khu vực này hiện vẫn chưa có sóng điện thoại).
– Các loại đồ bơi/tắm.
– Mũ vành rộng, các loại kem chống nắng, thuốc chống vắt, đặc biệt phải có thuốc chống côn trùng (khi lên suối những chú ong ruồi sẽ rất thích bạn nếu bạn không biết cách phòng tránh nó).

Do khu vực lòng hồ nằm trong sự quản lý của nhà máy thủy điện Bình Điền nên để vào được đây bạn cần liên hệ xin phép CA xã, bảo vệ của thủy điện Bình Điền để được phép vào trong khu vực lòng hồ.
Dulichgo
Qua cửa nhà máy, bạn có thể đi xe máy hoặc ô tô vào tận chân của đập thủy điện, để tiện di chuyển bạn sẽ gửi xe ở Trạm quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn.

Từ đây liên hệ thuyền địa phương để thuê vận chuyển vào khu vực Khe Lạnh – nằm trong khu vực lòng hồ của thủy điện. Hôm nào may mắn, bạn có thể được lên thuyền cùng các anh kiểm lâm vui tính của Trạm đi làm nhiệm vụ để khám phá.

Sau khi đi thuyền tầm 45 phút qua các dãy núi trùng điệp cùng làn nước trong xanh, Khe Lạnh hiện ra từ xa như một dãi lụa mềm mại đầy quyến rũ.
Dulichgo
Thuyền cập bến, bạn phải đi bộ len theo các mỏm đá ven suối tầm 15 phút nữa thì đến chân thác. Ngay chân thác, có một phiến đá như một cái bàn rất to, đủ chỗ cho một nhóm 10 – 12 người cùng ngồi ngỉ chân.

Nước ở đây chảy không mạnh lắm nhưng rất mát lạnh, phải chăng từ đó, cái tên Khe Lạnh ra đời từ cách gọi của người địa phương. Thác nước ở đây đẹp, hấp dẫn du khách là do dòng chảy và địa hình thú vị. Khi nước lớn, dòng thác chính chảy rất mạnh, hùng vĩ. Vào thời điểm nước nhỏ, nó chảy chia thành hai dòng mãnh mai như hoặc nhập lại như thanh kiếm sắc bén dựng thẳng lên trời. Do dòng nước như chảy ra từ trời xanh, người dân địa phương cũng còn gọi tên khác là Giếng trời.
Dulichgo
Để sở hữu cho mình những bức hình đẹp ở thác này, bạn nên đi sớm từ 06h sáng, sau khi di chuyển vào thác, ánh nắng chiếu xiên sẽ tạo nên khoảnh khắc đẹp.

Ngoài ra, bạn có thể chuẩn bị thêm it bộ trang phục chụp suối ghi lại những khoảnh khắc đẹp và lạ ở nơi này. Sau 13h chiều, mặt trời khuất bóng sau đỉnh thác, thác sẽ tối nhanh và đó chính là cơ hội để chúng ta tiếp tục đi chinh phục thác nước thứ hai trong lòng hồ là Khe Hung.

“Hung” theo dân địa phương ở đây có nghĩa là “Nhiều”, bởi ở đây có nhiều hồ nước hơn so với Khe Lạnh. Đoạn đường di chuyển giữa hai khe nước là tầm 25 phút và thêm 20 phút băng rừng.

Do có nhiều hồ nước trong xanh, bạn tha hồ vẫy vùng thỏa thích sau 1 ngày băng rừng, lội suối. Ngoài ra, bạn cũng có thể mạo hiểm đẫm mình trên lòng hồ rộng lớn. Tuy nhiên, phải nhớ mặc áo phao trên mình.

Các bạn cũng đừng quên ngoài việc vui chơi, tham quan thì đừng để lại gì ngoài những dấu chân các bạn nhé!

Theo Khám phá di sản
Du lịch, GO!

Nhà thờ cổ họ khoa bảng Nguyễn Tường - Hội An

(VOV) - Nhà thờ cổ tộc Nguyễn Tường là sự giao hoà của lịch sử, văn hoá và kiến trúc ở phố cổ Hội An. Ngôi nhà thờ cổ này có một dáng dấp bên ngoài đơn giản và khiêm nhường.

Nhà thờ cổ tộc Nguyễn Tường, được khởi dựng năm 1806, vốn là tư dinh của cụ Nguyễn Tường Vân, làm quan dưới thời Gia Long triều Nguyễn, được thăng chức Binh bộ Thượng thư vào năm Minh Mạng thứ nhất (1820).

Tộc họ Nguyễn Tường đất Quảng Nam nổi danh là một dòng họ khoa bảng. Người con trưởng của cụ Nguyễn Tường Vân là Phó bảng Nguyễn Tường Vĩnh (Tuần vũ Định Tường), người con thứ là Tiến sỹ Nguyễn Tường Phổ - từng làm quan đốc học Quảng Nam và Hải Dương dưới thời vua Thiệu Trị. Các thế hệ sau nhiều người đỗ đạt làm quan.

Đặc biệt, hậu duệ họ Nguyễn Tường ở đầu thế kỷ 20 nổi danh với những cái tên: Nguyễn Tường Tam (tức nhà văn Nhất Linh), Nguyễn Tường Lân (tức nhà văn Thạch Lam) và Nguyễn Tường Long (tức nhà văn Hoàng Đạo) - những nhân vật sáng lập và là chủ chốt của nhóm Tự Lực văn đoàn. Những nhà văn này cùng nhóm Tự lực Văn đoàn được coi đã đặt nền móng cho nền văn học hiện đại Việt Nam.
Dulichgo
Công trình có cấu trúc 3 gian 2 chái với chiều sâu 5 nhịp. Về tổng thể, nhà thờ có cấu trúc và kết cấu của nhà rường xứ Huế với bộ khung gỗ, hai chái xây bao gạch nhưng mái lợp ngói âm dương - loại vật liệu điển hình của phố cổ Hội An. Công trình đã trải qua hơn 200 năm với hai lần trùng tu.
Ảnh: Kết cấu kiểu “trính chồng trụ đội” ở nhịp thứ 2.

Công trình được các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng - Hội An thi công, với sự tinh tế và tính thẩm mỹ rất cao.
Dulichgo
Không gian thờ cúng được thưng gỗ, nằm gọn trong nhịp giữa và 3 gian giữa của ngôi nhà. Phía trên là tấm hoành phi đề 4 chữ “Nguyễn Tường Từ Đường”.

Nội thất gian thờ (nhịp giữa) có kết cấu kiểu “giao nguyên trụ đội” khá đơn giản. Nhịp thứ 4 và thứ 5 phía sau nhà cũng khá đơn giản phát triển từ hệ kết cấu nhịp giữa, tạo nên một không gian khá thoáng đãng.
Dulichgo
Cửa sổ ở chái nhà hình phật thủ, gợi nhắc sự đông đúc phồn thịnh theo quan niệm xưa.

Nhà thờ cổ tộc Nguyễn Tường còn được gọi với cái tên Dinh Ông Lớn, phần nào cho thấy sự kính trọng của người xưa về một dòng họ khoa bảng và văn nhân.
Dulichgo
Nhà thờ tộc Nguyễn Tường còn lưu giữ được những sắc phong của các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái thời Nguyễn, là những minh chứng rõ nét cho những đóng góp, cống hiến của dòng họ với xã hội và đất nước.

Trong nhà thờ cũng còn nhiều những vật dụng, sách vở được gìn giữ lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Theo Hà Thành (VOV)
Du lịch, GO!

Thơm nồng hương xôi tím Tây Bắc

(TTO) - Ai từng lên Tây Bắc và có dịp thưởng thức các món ăn của đồng bào Thái nơi đây chắc chắn không thể quên được sắc màu tuyệt đẹp lẫn hương vị của món xôi tím thơm lừng.

Quốc lộ 279, ngược dòng sông Đà. Chiếc xe trồi sụt trên con đường đầy đất đá, ngồi trên xe mà đầu cứ va vào nóc đau điếng. Thỉnh thoảng bánh xe lại lọt thỏm trong vết hằn do bùn lầy làm ai cũng hú tim.

Trầy trật mãi đến gần 9g đêm chúng tôi mới về đến điểm "tập kết" ở TP Điện Biên Phủ. Ai cũng mệt nhoài và đói. Mấy món ăn đã chuẩn bị sẵn đã nguội lạnh giờ mới được lôi ra làm nóng. Duy nhất chõ xôi ủ trong chiếc giỏ mây vẫn còn ấm. Ngay lập tức ngắt một miếng chấm muối vừng đưa vào miệng.

Những hạt xôi dẻo mềm, ngọt, thơm lừng, mùi vị đặc trưng khó lẫn với bất kỳ loại xôi nào đã từng thưởng thức. Nhẩn nha nhai, càng nhai càng thấy ngọt. Từng món ăn được mang lên, nhưng trên bàn hình như cũng chỉ món xôi tím là trông bắt mắt và hấp dẫn nhất.
Dulichgo
Xôi tím, món ăn nổi tiếng trên những cung đường Tây Bắc. Gạo nếp đồ xôi là loại gạo nếp trồng trên những thửa ruộng bậc thang trùng trùng điệp điệp. Loại gạo nếp hạt to, mẩy đều vừa gặt. Để làm món xôi tím người ta đồ xôi với lá cây khảu cẳm (còn gọi khẩu cắm hoặc nếp cẩm) chỉ có ở vùng cao.

Lá cây khảu cẳm hái trên rừng về rửa sạch rồi bỏ vào nồi nước nấu để cho ra màu tím. Nước lá để nguội rồi cho gạo nếp vào ngâm vài giờ để màu tím thấm đều hạt gạo sau đó mới cho vào chõ đồ thành xôi.

Xôi có màu đậm hay nhạt là tùy vào nước lá đặc sệt hay loãng và vào kinh nghiệm của mỗi người. Xôi vừa chín tới, từng hạt từng hạt xôi mềm dẻo ánh lên màu tím tươi rói, bóng mẩy, mới nhìn đã thấy ngon mắt.

Bà con người dân tộc Thái, Dáy thường ăn xôi tím muối vừng. Món ăn tiện lợi, có thể mang theo những buổi lên nương lên rẫy dùng cho bữa trưa. Những khi có khách đến thăm nhà hoặc tiệc tùng thì thường có thêm món thịt lợn ram vừng ăn cùng xôi.

Khi có lễ hội, xôi tím được xem là một phần trong món xôi ngũ sắc đặc trưng của đồng bào Tây Bắc với các màu đỏ tươi, đỏ thẫm, vàng, nâu, tím. Nhưng ngày nay, trên các mâm tiệc thết đãi khách phổ biến nhất vẫn là ba màu tím, trắng và vàng.
Dulichgo
Rong ruổi trên những cung đường Tây Bắc đẹp như mơ, có bọc xôi tím và mớ thịt ram mằn mặn kèm theo thì dừng chân ở đâu cũng có thể bày ra làm bữa... tiệc. Đặc biệt, xôi tím ăn chỉ thấy no chứ không ngấy. Chính vì thế, với bà con vùng cao, đây là món ăn không thể thiếu trong những bữa ăn hằng ngày hoặc các kỳ lễ hội.

Theo V.N.ANH (Dulich.Tuoitre)
Du lịch, GO!

Xôi ngũ sắc Tây Bắc

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

Thác Lộc Phát, Thác 7 tầng Tà Ngào

Đây là hai thác nước ở tỉnh Lâm Đồng nằm khá gần nhau, rất tiện cho một chuyến tham quan trên đường tới Đà Lạt. Mỗi dòng có một vẻ đẹp riêng, như những cảm xúc hiển hiện trên gương mặt bà mẹ tự nhiên.

+ Thác 7 tầng Tà Ngào - Lộc Thành:

< Đoạn suối chảy từ thác 7 tầng Tà Ngào - Lộc Thành.

Thác 7 tầng Tà Ngào - Lộc Thành thuộc huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, nằm trong khu rừng già nguyên sơ với hệ thống thác tuyệt đẹp. Thác 7 tầng Tà Ngào năm trong khu vực 'Thung lũng người ngoài hành tinh'.

Thác này hiện nay nằm trong khu du lịch ‘Thác 7 Tầng' do Đại học Hồng Bàng TP.HCM đầu tư và khai thác, cách trung tâm Bảo Lộc khoảng 20km.

Mới được phai phá không lâu nên cảnh quan và đường đi lên thác Tà Ngào còn khá hoang sơ và hiểm trở nhưng sẽ rất thú vị cho những ai thích mạo hiểm.
Dulichgo
Khu vực thác là một con suối dài chảy dọc theo thung lũng, len lõi vào giữa khu rừng nguyên sinh với những hốc đá sâu và thẳng đứng. Khu rừng cây già còn nguyên sơ cùng hệ thống thác tuyệt đẹp khiến bất kỳ ai đặt chân đến nơi đây đều mê đắm.

Đường đi từ Bảo Lộc đến khu thung lũng khá tốt nên xe gắn máy, xe ô tô đều dễ dàng đi được, có bãi đậu xe rộng rãi thoải mái. Tuy nhiên đường xuống thác thì chỉ có đi bộ (khoảng 1km) và đặc biệt, ai muốn khám phá hết 7 tầng thác thì chỉ có cách duy nhất là lội dọc theo con suối nên chỉ thích hợp cho mùa khô...
Dulichgo
Từ trung tâm Bảo Lộc đi lên hướng Đà Lạt, lên tới Ngã 3 Đại Bình, bạn chỉ cần rẽ phải, đi vào hướng Chợ Lộc Thành khoảng 2km sẽ có đường rẽ chạy thẳng vào khoảng 4km để đến với khu vực thung lũng có thác.

Để khám phá trọn vẹn hết 7 tầng thác, bạn nên đi vào mùa khô để có những trải nghiệm thú vị và an toàn nhất. Đu dây lên đỉnh thác, trượt thác,… là những hoạt động bạn nhất định đừng bỏ qua khi đã đến với thác Tà Ngào.
Dulichgo
+ Thác Cầu Đôi Lộc Phát:

Thác Lộc Phát (còn gọi là thác Đam Rông) cách Cầu Đôi 2 km. Thác có ba dòng chảy, đổ xuống từ độ cao khoảng 20 m. Dòng mảnh mai nhất ở giữa, hai dòng kia mạnh hơn, chảy như gào thét, nước tung trắng xóa. Bao quanh đó là một vách đá đầy các loại hoa trinh nữ, dã quỳ, cúc dại, hoàng anh...
Dulichgo
Thác dốc, đổ xuống một hẻm vực hẹp. Dòng nước chảy rất mạnh, uốn thành hình chữ chi, chạy sâu vào thung lũng bạt ngàn như con rồng trắng bay giữa muôn cây.

Sát nơi dòng nước đổ xuống có một nền đất nhỏ vuông vắn, một bên là dòng thác, ba phía còn lại được bao bọc bởi những cây cà phê cao tỏa bóng mát rượi. Thật tuyệt vời nếu nằm chơi ở đây, lại được thưởng thức một thứ cà phê đặc biệt, thơm lừng, chỉ ở Bảo Lộc mới có.

Từ ngã ba Phẹc trên quốc lộ 20, rẽ vào đường Nguyễn Văn Cừ, thuộc phường Lộc Phát, Bảo Lộc độ 1 km, bạn sẽ đến một cầu bê tông. Thác Cầu Đôi ở ngay dưới chân cầu.

Du lịch, GO! tổng hợp

Những dấu tích lịch sử ở Điện Biên

Với những phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hệ thống rừng núi, hang động đa dạng, du khách đến Điện Biên còn được tham quan di tích lịch sử chiến trường với chiến dịch 56 ngày đêm làm nên chiến thắng lừng lẫy.
Các di tích tiêu biểu đã trở thành chứng tích lịch sử, ghi lại trận chiến oanh liệt của quân và dân Việt Nam.

1. Di tích lịch sử hang Thẩm Púa

Nằm ở xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, hang Thẩm Púa là địa điểm đầu tiên đặt Sở chỉ huy tiền phương của Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Đường đi vào hang nhỏ hẹp với nhiều sườn dốc. Từ cửa hang, du khách có thể phóng tầm mắt ra những quả đồi mướt màu xanh của nếp nương hay những khung cảnh thiên nhiên hoang sơ.

Hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn khá nguyên vẹn với lòng hang rộng, có chỗ cao tới 10 mét và có nhiều các phiến đá to, phẳng như mặt bàn đã bị phủ rêu phong theo thời gian. Chính tại hang này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh mặt trận phổ biến lệnh tác chiến bí mật với phương án "đánh nhanh thắng nhanh" và dự định ngày nổ súng là 20/1/1954.
Dulichgo
Hang này được người dân địa phương trìu mến gọi là "hang ông Giáp". Ngoài ra, hang Thẩm Púa còn chứa đựng nhiều giá trị khảo cổ, với những hiện vật được chứng minh đây là nơi sinh sống của con người thời tiền sử.

2. Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

Cơ quan đầu não của chiến dịch nằm trong một khu rừng nguyên sinh thuộc xã Mường Phăng, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 27km.

Tại đây Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với các tướng lĩnh chỉ huy đã đưa ra những chỉ thị, mệnh lệnh tấn công có tính chất quyết định đến thắng lợi của từng trận đánh, mà đỉnh cao là lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận dẫn đến chiến thắng lịch sử lừng lẫy ngày 7/5/1954.

3. Hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
Dulichgo
Hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được xây dựng kiên cố với mái vòm bằng sắt, ván gỗ và nhiều bao cát, hàng rào thép gai hay những bãi mìn dày đặc bao bọc xung quanh. Bốn góc của hầm là 4 xe tăng và phía tây là trận địa pháo bảo vệ. Căn hầm dài 20 mét, rộng 8 mét được chia làm 4 ngăn là nơi làm vệc và nghỉ ngơi của tướng De Castries cùng Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Tại nơi này, tướng De Castries cùng toàn bộ chỉ huy quân Pháp đã bị bắt sống vào chiều 07/5/1954, lá cờ quyết thắng đã được cắm trên nóc hầm, kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ. Hiện nay, hầm vẫn còn giữ nguyên vẹn cấu trúc và cách sắp xếp của căn hầm trước kia.

4. Trung tâm đề kháng Him Lam

Được coi là cánh cửa thép có nhiệm vụ bảo vệ khu trung tâm, án ngữ con đường huyết mạch từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ. Đây là trung tâm đề kháng kiên cố nhất của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, do một đơn vị thiện chiến của quân đội Pháp đóng giữ.
Dulichgo
Tuy nhiên, cứ điểm này đã bị quân đội Việt Nam tiêu diệt trong trận mở màn chiến dịch và đây cũng là nơi chứng kiến tấm gương hy sinh của liệt sĩ Phan Đình Giót, người đã hy sinh thân mình lấp lỗ châu mai.

5. Đường kéo pháo

Nói về những dấu tích lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ, không thể không kể đến tuyến đường kéo pháo đã trở thành huyền thoại trong lịch sử dân tộc.

Đây là con đường kéo pháo bằng tay độc đáo bậc nhất trên thế giới, thể hiện ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam trong chiến dịch. Những người dân với lòng yêu nước, quyết tâm đã cùng bộ đội dùng những dụng cụ thô sơ như cuốc, xẻng, búa... để mở tuyến đường trên những sườn núi quanh co hiểm trở để kéo pháo vào trận địa. Cũng trên con đường này, liệt sĩ Tô Vĩnh Diện đã hy sinh thân mình để cứu pháo.

6. Di tích đồi A1

Đây là một điểm cao có vị trí quan trọng bậc nhất trong hệ thống 5 quả đồi phía Đông bảo vệ trung tâm Mường Thanh, quân đội Pháp bố trí nhiều binh lực, hỏa lực, có công sự kiên cố, vững chắc với nhiều ổ súng máy hiện đại. Do nằm ở vị trí đắc địa, dễ quan sát nên nơi đây đã trở thành một cứ điểm khó tấn công.
Dulichgo
Dù mở 4 đợt tấn công liên tục nhưng chỉ đến ngày 6/5/1954, quân đội ta mới phá sập được hệ thống hầm ngầm và hoàn toàn chiếm được đồi. Trận tiến công cứ điểm đồi A1 là một trong những trận đánh oanh liệt nhất của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

7. Di tích nhà tù Lai Châu

Nằm ở phường Sông Đà, thị trấn Mường Lay, Điện Biên, nhà tù được xây dựng vào năm 1901 và được thực dân Pháp đưa vào sử dụng đến năm 1953. Di tích nhà tù Lai Châu là nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp xâm lược.

Nơi đây được gọi là "trại giam địa đạo" vì trại giam này ngay cạnh khu nghĩa địa, khi có phạm nhân nào trốn trại bọn chúng liền đem ra nghĩa địa xử bắn và chôn luôn. Đây còn được ví như địa ngục trần gian, chỉ có lối vào chứ không có lối ra.

Di tích nhà tù đã trở thành phế tích nằm trong lòng hồ thủy điện Sơn La. Hiện nay, di tích này được tái hiện trong Bảo tàng Điện Biên.

Theo Anh Phương (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Thiêng liêng Ba Đình lịch sử

Quảng trường Ba Đình nằm trên đường Hùng Vương, quận Ba Đình, TP. Hà Nội. Là nơi ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt, vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Quảng trường Ba Đình vốn là khu vực cửa Tây của thành cổ Hà Nội. Phía tây Quảng trường Ba Đình giáp Lăng Hồ Chủ tịch, phía bắc giáp Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, phía đông giáp Hội trường Ba Đình, nơi diễn ra các cuộc họp của Quốc hội, Trung ương Đảng và những buổi họp hoặc mít tinh lớn. Đặc biệt, tại góc tây bắc Quảng trường là Phủ Chủ tịch và tại góc đông nam là trụ sở Bộ Ngoại giao.

Quảng trường Ba Đình hiện nay là quảng trường lớn nhất Việt Nam, có chiều dài 320m, rộng hơn 100m, đủ chỗ cho 20  vạn người dự mít tinh. Quảng trường có 240 ô cỏ bốn mùa xanh tươi, là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, nằm ở trung tâm quảng trường là cột cờ cao 30m. Đây là nơi chứng kiến rất nhiều sự kiện trọng đại của đất nước.
Dulichgo
Trước đây, năm 1894, khi chiếm đóng Hà Nội, thực dân Pháp đã phá thành, Quảng trường Ba Đình lúc đó chỉ là một bãi đất hoang và hồ ao mới san lấp rộng tới hàng chục hecta cạnh Phủ Toàn quyền Pháp. Người Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ và khu vực này được gọi là Quảng trường Tròn hay còn gọi là Quảng trường Pugininer (tên của một Linh mục người Pháp).

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quảng trường Tròn được đặt tên là Vườn hoa Ba Đình hay Quảng trường Ba Đình để tưởng nhớ cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nghĩa quân Phạm Bành và Đinh Công Tráng cuối thế kỷ 19, ở vùng Ba Đình, huyện Nga Sơn, Thanh Hoá.

Sau đó, Quảng trường Ba Đình đã được Bác Hồ chọn là nơi tổ chức lễ Tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945. Tại đây hàng vạn nhân dân thủ đô Hà Nội đã lắng nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Sau đó, Quảng trường Ba Đình còn có tên là Quảng trường Độc Lập.

Trong thời gian Pháp tạm chiếm Hà Nội (1947-1954), Phủ Toàn quyền Pháp đổi tên quảng trường là Vườn hoa Hồng Bàng. Năm 1954, quân ta về tiếp quản thủ đô và nơi đây lại được trả lại tên Quảng trường Ba Đình; cạnh đó Phủ Toàn quyền trở thành Phủ Chủ tịch.
Dulichgo
Ngày 9/9/1969, bảy ngày sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, lễ truy điệu Người đã được cử hành trọng thể tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Hàng vạn đồng bào thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ. Sau đó không lâu, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định chọn Quảng trường Ba Đình làm nơi yên nghỉ vĩnh hằng của Người và quyết định xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Quảng trường Ba Đình còn là nơi chứng kiến cuộc mít tinh của 400 nghìn người ngày 2/9/1975 mừng đất nước thống nhất với cuộc diễu binh vô cùng long trọng của các lực lượng vũ trang và nhân dân thủ đô.

Trong suốt những năm qua, Quảng trường Ba Đình lịch sử cũng là nơi thường xuyên được chọn để tổ chức các cuộc mít tinh, lễ kỷ niệm lớn mang tính lịch sử của đất nước. Đặc biệt, ngày 10/10/2010, nhân dịp kỉ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Quảng trường Ba Đình lại là nơi diễn ra lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành có qui mô lớn.

Bên cạnh những kiến trúc cũ, một số công trình được xây dựng thêm xung quanh khu vực Quảng trường Ba Đình đó là: Hội trường Ba Đình (hoàn thành năm 1963) và hiện đang được xây dựng lại, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (hoàn thành năm 1975), Bảo tàng Hồ Chí Minh (hoàn thành năm 1990), Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ hy sinh vì Tổ Quốc (hoàn thành năm 1994).

Ngoài các công trình lớn như trên, trong quần thể kiến trúc ở Quảng trường Ba Đình có một số công trình cũng rất quan trọng và ý nghĩa như Chùa Một Cột, khu di tích Phủ Chủ tịch. Những công trình này đã góp phần làm cho quần thể kiến trúc khu Quảng trường Ba Đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với việc phát lộ Hoàng Thành Thăng Long ngay gần Quảng trường Ba Đình khiến cho khu vực này càng trở nên thiêng liêng và có giá trị hơn bao giờ hết.
Dulichgo
Trải qua bao biến cố lịch sử, Quảng trường Ba Đình đã trở thành một cái tên gần gũi và thiêng liêng, trở thành niềm tự hào của nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước; đó cũng là nơi mà mỗi người dân Việt Nam và khách quốc tế đều mong được một lần đến thăm.

Theo Vietnamtourism.com, Datmui online
Du lịch, GO!