Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2016

Phú Yên không chỉ có hoa vàng cỏ xanh

(Zing) - Phú Yên là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, được ban tặng hệ thống cảnh quan khá đa dạng, những cung đường ven biển tuyệt đẹp, người dân thân thiện chất phác...

Để đến với Phú Yên thuận lợi nhất từ Hà Nội và TP HCM, bạn có thể đi tàu, hoặc máy bay đến TP Tuy Hòa, sau đó thuê xe máy khám phá vùng đất này.

Một số danh thắng tiêu biểu là Mũi Đôi, gành Đá Dĩa, đầm Ô Loan, núi Đá Bia, vịnh Xuân Đài, hòn Nưa, cù lao Mái nhà, bãi Môn, mũi Điện, vũng Rô, bãi Xép…

Từ TP Tuy Hòa đi dọc theo đường ven biển Phước Tân -Bãi Ngà, bạn sẽ đến với mũi Điện, bãi Môn. Nơi có ngọn hải đăng Mũi Điện chiếu sáng về đêm giúp cho tàu bè qua lại khu vực này.

Bạn có thể cắm trại qua đêm ở bãi Môn. Đây là một bãi biển vẫn còn khá hoang sơ, có hình vầng trăng khuyết với đường bờ biển dài khoảng 400 m, độ dốc thoai thoải, cát trắng mịn, nước trong vắt như pha lê, nơi đây cũng có một con suối nước ngọt chảy xuyên qua rồi đổ ra biển.
Dulichgo
Bạn có thể kết hợp tắm biển, BBQ, ngắm sao trời, ngắm ngọn hải đăng chiếu sáng về đêm cùng bạn bè.

Sáng sớm hôm sau, mất chừng 20 phút đi bộ, bạn sẽ đến ngọn hải đăng Đại Lãnh, Bạn có thể ngắm nhìn bình minh, tàu bè đi lại tuyệt đẹp nơi đây.

Mặt trời mọc ở phía đường chân trời.

Vịnh Vũng Rô, xưa kia là 1 địa chỉ tiếp nhận vũ khí bí mật từ miền Bắc chuyển vào qua những chuyến tàu không số lịch sử, góp phần chi viện cho chiến trường miền Nam.

Đến Phú Yên, bạn không thể bỏ qua Đầm Môn, cực Đông trên đất liền của Tổ quốc. Trong hình là con đường tuyệt đẹp dẫn vào Đầm Môn.
Dulichgo
Để đến với cực Đông, bạn phải băng qua những cồn cát, hoang mạc. Cần phải chuẩn bị đủ lượng nước uống cần thiết khi băng qua đây.

Ngắm nhìn những bờ biển tuyệt đẹp dọc đường đi.

Gửi xe ở trạm nghỉ dọc đường, mất khoảng nửa ngày đi bộ bạn sẽ đến được bãi Rạng, cắm trại ăn đồ nướng BBQ, nghỉ ngơi qua đêm.
Dulichgo
Đêm đầy sao ở Bãi Rạng.

Sớm hôm sau dậy sớm, nhảy ghềnh đá để đến với cực Đông trên đất liền của Tổ quốc.

Cực Đông, nơi đón những ánh sáng bình minh đầu tiên trên đất liền của Việt Nam.
Dulichgo
Ngoài ra bạn có thể kết hợp thăm thú thêm hòn Yến, bãi Xép, ghềnh đã đĩa. Vào buổi chiều, khi thủy triều xuống, trải nghiệm cảm giác đi bộ trên rặng san hô ra hòn Yến.

Ghềnh đá Đĩa.

Phút tinh nghịch nơi đây, phía xa xa bờ biển là làng chài của ngư dân.

Theo Tăng Văn Ngọc (Zing New)
Du lịch, GO!

Phú Yên đâu chỉ “hoa vàng với cỏ xanh”
Về miền đất 'hoa vàng, cỏ xanh'

Thơm ngon bánh xèo Chợ Chùa

(BQN) - Hãy đến Chợ Chùa trong những ngày này mưa rả rích, cộng với cái se se lạnh đặc trưng của mùa thu đông. Dọc cánh tả đường lộ, những làn khói trắng bốc lên từ bếp củi hồng hòa cùng mùi thơm của bánh xèo làm từ bột gạo và tôm, thịt… sẽ khiến bạn bị hấp dẫn ngay.

Bánh xèo Chợ Chùa (huyện Nghĩa Hành) tập trung ở tổ dân phố 3, giờ đã khá nổi tiếng và được nhiều người biết đến bằng cách truyền tai nhau.

Bất kể ai ở Minh Long hay Ba Tơ, xa hơn nữa là các vùng giáp ranh như Kon Tum… khi có công việc phải xuống TP.Quảng Ngãi và ngược lại từ dưới phố trở lên các huyện này, họ đều nhớ đinh ninh rằng dù có bận đến mấy lúc về cũng tạt ngang “đánh chén vài cái” cho đã thèm. Sau đó mua thêm bịch lớn gói gém đem về nhà cho người thân thưởng thức.

Ở thị trấn Chợ Chùa có thương hiệu hơn cả là quán của bà Võ Thị Xuân Lai, 52 tuổi. Mọi người vẫn thường hay gọi bằng cái tên dân dã là “bánh xèo bà Lai”. Dù không có gì khác so với các quán còn lại nhưng khá đắt khách bởi bí quyết pha trộn gia vị vào nguyên liệu bột. Quán lúc nào cũng đông nườm nượp, thực khách dù khó tính đến mấy cũng gật đầu khen ngon.

Tiếng “xèo xèo” khi bột được tráng trên khuôn quết dầu và làn khói trắng phả trong gió cay xè như càng mời gọi. Thích thú hơn là cảnh vừa ăn vừa đợi, những chiếc bánh nóng hổi mới ra lò còn phảng phất hơi nóng, vàng ươm như chất xúc tác làm tăng thêm độ “ghiền”.
Dulichgo
Thấy chúng tôi tò mò hỏi bí quyết, bà Lai xin phép từ chối tiết lộ. Bà chỉ nói đơn giản là bà biết cách làm cho bánh xuê hơn các quán khác nhờ cách chế biến bột và bánh ngọt, thơm hơn do biết ướp gia vị.

Bánh xèo là món ăn dân dã ở miền Trung đầy nắng gió mà mỗi khi xa quê người ta thường hay nhớ về. Dù có ở nhiều nơi, nhiều vùng miền, nhưng ở Nghĩa Hành và các huyện lân cận, người ta vẫn hay nhắc đến bánh xèo Chợ Chùa như một thứ đặc sản cho những ai sành ăn.

Chị Trần Thị Mỹ Hoa, 29 tuổi, xã Nghĩa Điền (huyện Tư Nghĩa) nở nụ cười thật tươi khi được hỏi về món ngon này. Chị tâm sự rằng, hơn chục năm qua chị vẫn là khách quen ở quán bà Lai.

“Bánh xèo nơi đây có vị thơm, độ mềm giòn vừa phải, ăn lại không ngán. Đặc biệt là màu sắc của chiếc bánh với màu vàng đều rất bắt mắt, chỉ ngắm nghía thôi đã thấy bụng cồn cào”, chị Hoa cho biết.

Thực tế nếu bán với giá 2.500 đồng một bánh thì quán bà Lai tính ra thua các quán khác về lợi nhuận, vì chi phí bỏ ra nhiều, nhưng có một điều mà quán bà hơn hẳn là số lượng khách tới ăn. Theo như lời bà Hoa kể, một ngày bà có thể đúc trung bình khoảng trên 1 nghìn chiếc bánh, thậm chí có khi còn cao hơn và kiếm lời trên đầu bánh. Đặc biệt, vào các ngày lễ, Tết, khách khắp nơi kéo về, bà bán đến vài nghìn bánh.

Ở cái thị trấn Chợ Chùa nhỏ bé ấy có khoảng 6 quán lớn nhỏ như bà Lai mọc lên, nằm san sát nhau, bán từ 14h đến 20h trong ngày, suốt hơn hai chục năm.
Dulichgo
Làm bánh xèo đòi hỏi phải có sự cẩn thận, khéo léo và tập trung để có những mẻ bánh giòn hoặc mềm theo yêu cầu của khách. Không chỉ quán bà Lai mà hầu hết các quán ở đây đều rất biết cách chiều khách đến, làm vừa lòng khách đi.

Khách muốn bánh giòn thì cho dầu nhiều hơn nhưng lớp bánh tráng phải mỏng, giòn nhưng không bị vỡ, vàng nhưng không bị cháy. Còn khách yêu cầu mềm thì tráng ít dầu hơn. Mọi người vẫn giữ cách bán buôn văn minh, lịch sự, chẳng tranh giành khách.

Rồi cứ thế, ngày qua ngày nghề đúc bánh xèo đã trở thành cái nghề đem lại thu nhập ổn định cho những người dân sinh sống tại đây.

Điển hình như vợ chồng bà  Huỳnh Thị Để (70 tuổi) đã nuôi 3 đứa con trưởng thành bằng phần lớn lợi nhuận kiếm được từ cái nghề lận lưng này bên cạnh việc kinh doanh ngoài chợ. Càng vui mừng hơn khi ở cái tuổi xế chiều bà và chồng vẫn còn đủ sức khỏe để bám lấy nó để mưu sinh.
Dulichgo
“Già rồi biết làm gì để kiếm tiền đâu! Hai vợ chồng già cũng may có cái nghề truyền thống để gắn bó, kiếm vài trăm ngàn mỗi ngày, bớt gánh nặng cho con cháu”, bà Để nói.

Bánh xèo Chợ Chùa dân dã mà ngon. Nếu có thời gian, hay tiện đường, bạn hãy đến đây một lần thưởng thức để cảm nhận được vị ngon của bánh xèo Chợ Chùa.

Theo Thiên Hậu (Báo Quảng Ngãi)
Du lịch, GO!

Ấn tượng khó phai với 'làng nhum' ở Phổ Châu

(iHay) - “Làng Nhum” là tên gọi khác của làng Châu Me, xã Phổ Châu (H. Đức Phổ, Quảng Ngãi) do du khách đặt vì đây là nơi sản sinh các món nhum nổi tiếng.

Khách về biển Châu Me, thấy ghi trên menu các món ăn có tên “nhum” là gọi… đại bởi vì lạ, ăn cho biết (và sau “biết” là ghiền). Thật ra, đó là những con nhum được đánh bắt từ những ngày hè gay gắt vừa mới đi qua. Chúng được cấp đông kỹ càng trong tủ lạnh nên vẫn còn vẹn nguyên hương vị. Và nghe chừng cái nắng, cái gió của tháng tư, tháng năm cũng còn phảng phất trên từng sớ thịt nhum.

Con nhum mình tròn, vỏ cứng như vỏ ốc, có gai nhọn và dài tua tủa quanh thân nên còn được gọi là nhím biển. Quê hương của nhum là những rặng đá ngầm cách bờ khoảng nửa hải lý, nơi quần tụ các loài rong là thức ăn của nhum.

Những người khai thác nhum ở xã bãi ngang Phổ Châu cho biết họ lặn xuống khu vực có nhum, lặng lẽ tiếp cận, vừa bập móc sắt vào thân nhum vừa giật mạnh. Con nhum không kịp… trở tay nên bị dính ngay vào móc. Nếu động tác giật hơi chậm, không đồng thời với động tác bập, con nhum phản ứng tự vệ, bám riết trên đá. Dù bộ “áo giáp” của chúng đã bể nhưng đố ai mà gỡ cho ra.

Khi nhum được đưa vào bờ, những “người Việt ăn kiểu Nhật” tranh mua, bổ đôi con nhum, gạt bỏ tạp chất, cho chanh, muối, bột ngọt và mù tạt vào khuấy đều rồi ăn sống ngay tại bãi. Họ nói ăn vậy mới “đỉnh”. Vào dạ dày, thịt nhum “đi” trực tiếp vào huyết quản, bổ vô cùng.
Dulichgo
Có thể xào hoặc trộn thịt nhum với trứng vịt chưng mặn để ăn cơm. Nhiều gia đình nghỉ mát gọi hai món này cho bữa tối, bọn trẻ ăn không kịp xúc cơm. Còn người lớn thì kêu bia lia chia vì "mấy món này ngon quá".
Cũng có thể um thịt nhum với bắp chuối chát và cây chuối non… Đây là một “biến tấu” của nhum, được ghi nhận là tạo mùi hương đồng nội nhẹ nhàng bên cạnh mùi hương biển đậm đà.

Nhum trộn hàu rồi đổ chả lại là món khoái khẩu khác. Món này, thịt nhum bao bọc con hàu. Khi nhai, nghe cái bụp, thấy beo béo là biết con hàu đã vỡ ra. Lúc đó, nhum cũng “lên tiếng” bằng cái ngòn ngọt, thơm thơm mùi rong non nghe đã lắm.

Để tận hưởng vị mặn ngọt bùi béo thì gọi một tô mắm nhum ăn với bún tươi và một ít thịt ba chỉ với vài loại rau sống. Món này “trơn” cổ lắm, chỉ nên ăn một chén thôi, còn để bụng lai rai vài “thể loại” nhum khác nữa.

Bên cạnh những món vừa kể, giới lai rai còn “truyền tụng” rằng tới “làng nhum” chơi mà ra về trong bụng không có chút cháo nhum thì coi như chưa tới. Hương vị của món này rất đặt biệt, không thể lẫn với bất cứ món hải sản nào, bởi nếu lắng nghe, người ăn có thể nhận ra vị ngọt thanh của ốc, của sò điệp, vị ngọt dịu của tôm, cua phảng phất hương biển tanh nồng. Một bát cháo nhum “chuẩn làng nhum” phải được ăn cùng với cải cay xắt nhỏ. Thịt nhum hòa vào gạo nấu nhuyễn tan trên đầu lưỡi nhưng đọng rất lâu trong “hồn” ẩm thực sau một lần thưởng thức cháo nhum.
Dulichgo
Một ông khách vui tính ca ngợi rằng húp vài chén cháo nhum trong và sau chầu nhậu thấy nhẹ cái đầu, chất cồn trong bia rượu len lén tan đâu mất. Rồi ông ta cười khà khà, dí dỏm nói giờ bàn mình “làm” lại từ đầu đi, chớ về nhà mà tỉnh queo như vầy, vợ ngạc nhiên hỏi “bữa nay anh chỉ ăn thôi hả” thì… kỳ lắm.

Theo Trần Cao Duyên (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

Hòn Trẹm: Tiểu Hạ Long phương Nam

Hòn Trẹm ở huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Đây là điểm hẹn du lịch hấp dẫn nhờ được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh quan thơ mộng.
Nằm cách thành phố Rạch Giá 80km và cách hòn Phụ Tử chừng 1.000m, hòn Trẹm nhô lên như một ngọn đồi nằm giữa một làng chài kỳ thú. Một mặt hòn Trẹm quay về vách núi, ba mặt còn lại đều giáp với biển trời mênh mông, xa xa là những hòn đảo xanh rờn, tạo thành một bức tranh hoang sơ và hoành tráng.
Trong thực tế, hòn Trẹm dính liền với chân núi như một bán đảo vừa đẹp vừa nên thơ. Đây là một trong những thắng cảnh đẹp và hấp dẫn nhất của các cụm điểm du lịch Kiên Giang, nhờ thiên nhiên hào phóng ban tặng cho nhiều cảnh quan thơ mộng với dáng thế độc đáo không đâu có được. Đứng từ trên đồi cao 21m, phóng tầm mắt ra xa, chúng ta có thể nhìn thấy nhiều hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô giữa trùng khơi, thuộc quần đảo Bà Lụa. Với cảnh đẹp mê hồn, nhiều du khách từng ví đó là Tiểu Hạ Long phương Nam.

Thơ mộng và quyến rũ

Nơi đây không gian thật yên tĩnh. Đứng từ trên đồi cao nhìn xuống các ghềnh đá cheo leo ta nghe rõ từng tiếng sóng vỗ rì rào, nhẹ tênh cõi lòng. Phía trước là biển, đằng sau là núi đồi hùng vĩ và những hàng dừa nghiêng bóng dọc theo các lối đi. Đó đây, lác đác vài hàng quán trưng bày những hàng lưu niệm và đặc sản của núi rừng, trông hết sức chân quê.
Dulichgo
Đêm xuống, nhìn ra biển, bạn sẽ choáng ngợp trước cảnh biển đêm lung linh ánh đèn huyền ảo, phát ra từ vô số chiếc tàu đánh cá ngoài khơi, chẳng khác nào những chùm sao biển nhấp nháy trong đêm. Thỉnh thoảng một vài chiếc thuyền giăng câu, đặt ghẹ và thả lưới nhấp nhô trên sóng nước càng khiến cho màn đêm trở nên êm đềm và thơ mộng.

Chính nơi đây, từ năm 2000, Công ty cổ phần du lịch Kiên Giang đã đầu tư xây dựng những con đường lên đỉnh và vòng quanh hòn Trẹm tạo thành một quần thể du lịch vô cùng quyến rũ. Ấn tượng nhất là “Hòn Trẹm Resort” - một khu du lịch cao cấp được thiết kế ngay trên lưng đồi, rất nên thơ.

Từ năm 2008, ngành du lịch Kiên Giang lại tiếp tục nâng cấp khu du lịch Hòn Trẹm với tiêu chuẩn 4 sao, có hồ bơi, phòng internet, phòng họp và nhà hàng 200 chỗ ngồi, cùng với các dịch vụ massage, sauna, karaoke. Nơi đây còn là điểm hẹn lý tưởng cho những ai cần nghỉ dưỡng cuối tuần hoặc đổi gió sau những ngày bận rộn mưu sinh.

Ngoài những phòng nghỉ cao cấp, khu du lịch Hòn Trẹm còn có những phòng nghỉ bình dân cũng vô cùng thoáng mát và yên tĩnh ngay dưới chân đồi. Tại đây, bạn tha hồ ngắm cảnh, quay phim, chụp hình, đẹp nhất là lúc ráng chiều mờ ảo trông như một bức tranh quê mộc mạc, thanh bình, từng làm cho không ít du khách mê mẩn.

Du khách đến hòn Trẹm có thể thả bộ dọc theo bờ biển, quanh sườn đồi nghe tiếng sóng reo vui và thưởng thức nhiều đặc sản biển. Cá bống mú hấp tương, cá chình nướng muối ớt, vọp nướng mỡ hành, cá mặt quỷ nấu canh chua…là những món ngon mà có lẽ ít khi bạn được thưởng thức.
Dulichgo
Phía dưới chân hòn Trẹm có một khu chợ nhỏ và nhiều quán ăn chuyên bán các loại hải sản tươi sống, vừa mới bắt lên còn nhảy soi sói. Hấp dẫn nhất là sò lụa, sò lông, mực, ghẹ, cua đá, tôm tít, vừa với túi tiền. Còn muốn khám phá các thắng cảnh xung quanh, bạn có thể tham quan chùa

Đây là điểm hẹn du lịch hấp dẫn nhờ được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh quan thơ mộng. Nằm cách thành phố Rạch Giá 80km và cách hòn Phụ Tử chừng 1.000m, hòn Trẹm nhô lên như một ngọn đồi nằm giữa một làng chài kỳ thú. Một mặt hòn Trẹm quay về vách núi, ba mặt còn lại đều giáp với biển trời mênh mông, xa xa là những hòn đảo xanh rờn, tạo thành một bức tranh hoang sơ và hoành tráng.

Thơ mộng và quyến rũ, hòn Trẹm như một bán đảo vừa đẹp vừa nên thơ. Đây là một trong những thắng cảnh đẹp và hấp dẫn nhất của các cụm điểm du lịch Kiên Giang, nhờ thiên nhiên hào phóng ban tặng cho nhiều cảnh quan thơ mộng với dáng thế độc đáo không đâu có được.

Đứng từ trên đồi cao 21m, phóng tầm mắt ra xa, chúng ta có thể nhìn thấy nhiều hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô giữa trùng khơi, thuộc quần đảo Bà Lụa. Với cảnh đẹp mê hồn, nhiều du khách từng ví đó là Tiểu Hạ Long phương Nam. Nơi đây không gian thật yên tĩnh. Đứng từ trên đồi cao nhìn xuống các ghềnh đá cheo leo ta nghe rõ từng tiếng sóng vỗ rì rào, nhẹ tênh cõi lòng. Phía trước là biển, đằng sau là núi đồi hùng vĩ và những hàng dừa nghiêng bóng dọc theo các lối đi. Đó đây, lác đác vài hàng quán trưng bày những hàng lưu niệm và đặc sản của núi rừng, trông hết sức chân quê.

Đêm xuống, nhìn ra biển, bạn sẽ choáng ngợp trước cảnh biển đêm lung linh ánh đèn huyền ảo, phát ra từ vô số chiếc tàu đánh cá ngoài khơi, chẳng khác nào những chùm sao biển nhấp nháy trong đêm.
Dulichgo
Thỉnh thoảng một vài chiếc thuyền giăng câu, đặt ghẹ và thả lưới nhấp nhô trên sóng nước càng khiến cho màn đêm trở nên êm đềm và thơ mộng.Chính nơi đây, từ năm 2000, Công ty cổ phần du lịch Kiên Giang đã đầu tư xây dựng những con đường lên đỉnh và vòng quanh hòn Trẹm tạo thành một quần thể du lịch vô cùng quyến rũ. Ấn tượng nhất là “Hòn Trẹm Resort” - một khu du lịch cao cấp được thiết kế ngay trên lưng đồi, rất nên thơ.

Từ năm 2008, ngành du lịch Kiên Giang lại tiếp tục nâng cấp khu du lịch Hòn Trẹm với tiêu chuẩn 4 sao, có hồ bơi, phòng internet, phòng họp và nhà hàng 200 chỗ ngồi, cùng với các dịch vụ massage, sauna, karaoke.Nơi đây còn là điểm hẹn lý tưởng cho những ai cần nghỉ dưỡng cuối tuần hoặc đổi gió sau những ngày bận rộn mưu sinh.

Ngoài những phòng nghỉ cao cấp, khu du lịch Hòn Trẹm còn có những phòng nghỉ bình dân cũng vô cùng thoáng mát và yên tĩnh ngay dưới chân đồi. Tại đây, bạn tha hồ ngắm cảnh, quay phim, chụp hình, đẹp nhất là lúc ráng chiều mờ ảo trông như một bức tranh quê mộc mạc, thanh bình, từng làm cho không ít du khách mê mẩn.

Theo Dulich VN
Du lịch, GO!

Hòn Trẹm, Kiên Giang

Dưới chân Chóp Chài

Chóp Chài (tên chữ là Nựu Sơn, Nữu Sơn, còn có tên là núi Liên Trì) là một ngọn núi trẻ sừng sững giữa đồng bằng châu thổ tả ngạn sông Ba. Bao bọc quanh chân núi là những làng xóm hiền hòa của 14 thôn, khu phố thuộc 2 xã Bình Kiến, Hòa Kiến và phường 9 (TP Tuy Hòa).

< Núi Chóp Chài trong sương, nhìn từ núi Nhạn. Ảnh Dulichgo

Đồng bằng châu thổ sông Ba rộng 20.000ha, xưa là biển cả. Và lúc đó, núi Chóp Chài là một cù lao giữa biển khơi. Ngày nay, khi đào giếng ở những cánh đồng Phước Hậu, Thanh Đức, người dân thỉnh thoảng bắt gặp những đoạn dây neo, chứng tích còn sót lại của biển cả xa xưa.

Dưới góc độ phong thủy học và địa linh học của văn hóa phương Đông, vùng châu thổ sông Ba hình thành theo thế long - quy trong chỉnh thể tứ linh “long - lân - quy - phụng” với sông Ba như một con rồng uốn khúc giữa sóng lúa bạt ngàn, còn núi Chóp Chài như một con rùa nằm sát quốc lộ 1. Thế long - quy đã tạo thành khí thiêng sông núi, địa linh nhân kiệt của quê hương Phú Yên.
Dulichgo
Ẩn hiện ở lưng chừng núi và chân núi Chóp Chài có những ngôi chùa cổ kính, tôn nghiêm, vừa hiền hòa vừa u tịnh như các chùa Khánh Sơn, Bửu Lâm, Minh Sơn, Hòa Sơn, chùa Hang. Những ngôi chùa cổ này có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của cư dân địa phương. Ngoài ra, dưới chân núi Chóp Chài là mộ bà Dũ Ký - điểm hẹn giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đầu năm 1961.

Cách chân núi Chóp Chài về phía đông có Bàu Sen rất đẹp, được những bậc tiền hiền tạo lập từ nhiều thế kỷ trước. Địa danh Liên Trì hình thành từ gốc tích Bàu Sen (Liên là sen, Trì là bàu, ao). Làng Liên Trì được khai hoang mở đất vào cuối thế kỷ XVI. Địa danh xã Liên Trì được thể hiện trong địa bạ triều Nguyễn xác lập năm Gia Long 14-15 (1815-1816) thuộc tổng Trung, huyện Đồng Xuân, trấn Phú Yên như sau: Liên Trì (Bàu Sen) xã đông giáp bãi biển, tây giáp núi, bắc giáp địa phận thôn Phú Cốc…; có đường thiên lý đi qua 773 tầm 3 thước (thước = 0,424m, tầm = 5 thước = 2,12m). Xã Phước Toàn (Phước Hậu) cũng được xác lập trong địa bạ triều Nguyễn như đã viện dẫn.

Đối diện với Chóp Chài là bãi biển dài 6km với rừng phi lao ven biển tuyệt đẹp, là địa bàn lý tưởng để mở rộng TP Tuy Hòa về hướng bắc. Xung quanh Chóp Chài có ba cánh đồng tiêu biểu. Trong đó, đồng Thủy (Phước Hậu - Thanh Đức) là xứ đồng màu mỡ phì nhiêu, đặc biệt có năng suất lúa cao nhất (15-16 tấn/ha/năm) nằm ở vị trí cực đông của châu thổ tả ngạn sông Ba.

Gọi là đồng Thủy vì các chân ruộng nằm ở vị trí trũng, thấp nhất của đồng bằng Tuy Hòa, thường xuyên bị ngập úng, đồng thời cũng thường xuyên nhận được lượng phù sa bồi đắp đậm đặc nhất trong mùa mưa lũ.
Dulichgo
Đồng Màng nằm dưới chân núi Chóp Chài về phía bắc (thôn Thượng Phú - Phú Vang) do phù sa sông Đà Rằng và vô số con suối nhỏ bồi đắp. Đồng Màng tuy không màu mỡ bằng đồng Thủy, năng suất lúa khiêm tốn hơn nhiều nhưng có thể tận dụng trồng xen dưa hấu, đậu xanh…, tạo nguồn sống chủ yếu cho nông dân các thôn Thượng Phú, Phú Vang, Liên Trì.

Giữa doi cát chạy dài từ thôn Phú Vang vào Phước Hậu và doi cát ven biển, phù sa của nhiều con suối nhỏ hình thành cánh đồng Lúa Trái nổi tiếng với sản phẩm nếp Vườn Trầu đã từng vang bóng một thời. Gọi là đồng Lúa Trái vì trước đây thủy lợi chưa phát triển, bà con nông dân trồng lúa nhờ nước trời, thường gieo cấy sau ngày 23/10 (âm lịch) và thu hoạch vào tháng Giêng.

Riêng đồng Lúa Trái do bị trũng nên đến mùa nắng mới gieo cấy được và phải đào ao tát nước tưới cho lúa. Địa danh đồng Lúa Trái ghi dấu ấn cách canh tác trái vụ của xứ đồng này ở thế kỷ trước. Người dân đào ao tát nước làm nên hạt nếp Vườn Trầu vất vả, ghi dấu ấn nhọc nhằn trong ca dao:

Muốn ăn hạt nếp Vườn Trầu
Sợ e tát nước giở gầu không lên

Ngoài trồng lúa, người dân Bình Kiến còn rất chú trọng phát triển nghề vườn với một diện tích đất thổ cư tương ứng với diện tích trồng lúa.
Dulichgo
Trước Cách mạng Tháng Tám, đời sống bà con trong xã rất cơ cực. Ngay cả làng Phước Hậu nổi tiếng trù phú, mỗi xóm cũng chỉ có vài ba giếng nước dùng chung. Mãi cho đến năm 1960, toàn xã cũng chỉ lác đác vài nhà ngói. Trước giải phóng 1975, nghề làm vườn ở Bình Kiến đã có sự phát triển đáng kể. Sau giải phóng, ngoài trồng lúa, người dân Bình Kiến hình thành vùng chuyên canh rau xanh và trồng hoa cảnh nổi tiếng, cung ứng cho thị trường trong và ngoài tỉnh.

Chóp Chài hôm nay là viên ngọc quý giữa lòng TP Tuy Hòa đang được nghiên cứu toàn diện để phát triển du lịch, mà điểm nhấn là du lịch tâm linh, tạo một nét chấm phá mới cho sự nghiệp phát triển của TP Tuy Hòa và tỉnh Phú Yên.

Theo Thanh Bình (Báo Phú Yên)
Du lịch, GO!

Làng nghề đan đó hơn 200 năm tuổi

Nhắc đến Đó, ai cũng biết là dụng cụ dùng để bẫy tôm, cua, cá... trên mương, rạch và sông. Qua nhịp thở của thời gian, chiếc Đó không còn được sử dụng rộng rãi và dần bị quên lãng. Nhưng ở xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên vẫn còn bảo tồn nghề đan Đó truyền thống, bởi nó gắn liền với văn hóa dân tộc trải dài theo dòng lịch sử, gắn với nền văn hóa nông nghiệp của Việt Nam.

Để mục sở thị những chiếc Đó ở xã Thủ Sỹ và tìm hiểu thêm về văn hóa, bạn nên ghé thăm làng nghề làm Đó nơi đây. Bạn có thể tìm về làng nghề truyền thống thuộc mảnh đất Tiên Lữ để khám phá bức tranh thôn quê thanh bình với nghề đan Đó lâu đời. Trong hành trình về với  Hưng Yên mùa hè này, vùng đất Thủ Sỹ huyện Tiên Lữ hứa hẹn sẽ là điểm đến lý thú dành cho bạn khi tìm về chốn làng quê mộc mạc và trải nghiệm nghề đan Đó truyền thống của đất Việt.

< Nghề đan đó ở Thủ Sỹ đã có khoảng 240 năm, vẫn tồn tại và phát triển.

Theo hành trình khám phá, bạn có thể tìm đến thôn Tất Viên và Nội Lăng - nơi có truyền thống đan Đó lâu đời và nổi tiếng nhất xã Thủ Sỹ. Đến đây bạn sẽ bắt gặp những hình ảnh thật dung dị nơi làng quê lam lũ nhưng rất thanh bình, trong trẻo. Những chiếc xe chở Đó kết thành từng chùm như một bông hoa mang sắc màu của nắng được chở ra chợ bán, rồi đến cảnh phơi nan, hình ảnh những cụ già và những em nhỏ ngồi đan lát mang đến cho bạn thứ tình quê ấm áp.
Dulichgo
Đan một chiếc Đó tưởng chừng như rất đơn giản nhưng khi đến đây bạn sẽ hiểu thêm sự vất, kỳ công cũng như sự tỉ mỉ, khéo léo của những đôi bàn tay sần sùi mưa nắng. Không chỉ vậy, để tạo thành những chiếc Đó, người đan cần có sự chăm chỉ, kiên nhẫn và tình yêu nghề mới tạo ra những sản phẩm tinh tế, bền chặt được.

< Nghề đan cần sự khéo tay và tỉ mỉ. Thế nhưng ở xã Tiên Lữ, cả người già lẫn trẻ nhỏ đều có thể tạo nên sản phẩm. Các cụ bà ở đây chia sẻ, họ bắt đầu đan đó từ khi 5 tuổi, thậm chí còn đùa rằng biết đan đó từ trong bụng mẹ.

Nguyên liệu để làm ra những chiếc Đó là tre hoặc nứa già. Đó có hình bầu dục, đuôi nhọn, miệng nhỏ tròn, nắp miệng là chiếc hom, có lẽ dễ đan nhất là đan hom miệng Đó, khó nhất là cạp, vành miệng và đan kết thúc đuôi Đó. Ngoài sản phẩm là Đó thì người dân nơi đây còn tạo ra những chiếc rọ, lờ, giỏ... cũng là những thứ dùng để bắt tôm, cua, cá...

< Đó có 3-4 loại, trong đó có 2 loại chính là đó hun và đó trắng. Đó trắng rẻ hơn, có giá khoảng 20.000 đồng một chiếc.
Dulichgo
Tại đây, bạn sẽ được tìm hiểu, học hỏi nghề đan Đó và tự tay làm ra những sản phẩm thủ công truyền thống. Hơn thế nữa, bạn còn có thể trò chuyện và thưởng thức những bữa ăn đạm bạc, dân dã cùng người dân hoặc nhâm nhi những tách trà, thưởng thức nhãn lồng Hưng Yên vào dịp hè. Chắc chắn, những người dân hiền hậu nơi đây sẽ luôn chào đón bạn đến thăm nhà!

< Đó hun được làm kỳ công, hun khói 3 lần cho lên màu. Đó hun bền hơn, không bị rêu bám và có giá khoảng 30.000-40.000 đồng một chiếc.

Nếu có dịp đến thăm nơi đây, bạn sẽ thấy những kỹ năng độc đáo của những người thợ với đôi tay thoăn thoắt làm nên những sản phẩm Đó. Nghề đan Đó thấm vào mỗi người dân ở đây một cách tự nhiên. Ngày mùa thì người dân ra đồng làm ruộng, tối về hay rảnh rỗi là lại đan lát như một thói quen không thể thiếu.

Ngày nay, làng nghề đan Đó Thủ Sỹ vẫn phát triển khá ổn định và tiêu thụ chủ yếu theo kiểu nhỏ lẻ thông qua người dân trong xã đứng ra gom lại hoặc mang ra chợ bán. Mỗi năm làng nghề cung cấp khoảng 650.000 sản phẩm, đem lại thêm 50% thu nhập cho người dân trong xã. Mặc dù giá bán một chiếc Đó rất rẻ, chỉ từ 5 - 10 nghìn đồng nhưng qua bao năm tháng và trải qua bao thế hệ, người dân vùng đất này vẫn luôn gắn bó, gìn giữ và phát huy nghề truyền thống cùng những thanh nứa, thanh tre.

Sản phẩm Đó của làng nghề chủ yếu được đem đi tiêu thụ ở huyện Tiên Lữ cùng các huyện lân cận và các tỉnh xung quanh, nơi có những cánh đồng chiêm trũng và nhiều kênh mương, sông ngòi. Giờ đây, những chiếc Đó đang dần được ưa chuộng trong lĩnh vực du lịch và giải trí, được chọn làm đèn trang trí cho các nhà hàng, quán cà phê. Góc phố nhỏ, những chiếc Đó vẫn còn được tỏa sáng bên ánh đèn.
Dulichgo
Bức tranh làng nghề truyền thống của Thủ Sỹ luôn ánh lên những nét đặc sắc, điểm thu hút rất riêng biệt mang đến cho bạn những cảm xúc mới và trải nghiệm lý tưởng. Hãy một lần ghé thăm khi về Hưng Yên nếu bạn muốn tự tay vót nan, đan đó; tự đi kiếm tôm, cua, cá... trên những cánh đồng, ven sông, rồi tự mình chế biến những món ăn đậm đà hương vị chốn quê yên bình!

Theo Nguyễn Huệ (Du lịch Hưng Yên), ảnh Zing
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

Lâm Đen ký sự

(BQN) - Thuở trước, đầm Lâm Đen là nơi mưu sinh và trú ngụ của xóm bè rớ với những ngọn đèn sáng rực trong đêm tối để nhử cá, tôm vào rớ cho phiên chợ sớm mai. Giờ, từng đàn cò trắng thong dong tìm mồi giữa chiều thu yên ả.

1. Đầm Lâm Bình (thuở trước gọi là Lâm Đen, thuộc địa bàn xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ) có diện tích khoảng 200ha, tựa chiếc gương khổng lồ soi nền trời xanh thẳm lơ lửng vầng mây trắng bay. Khi mưa giăng kín đất trời, nước lũ đổ về khiến những cánh đồng ven đầm chìm trong biển nước mênh mông.
Cửa đầm là nơi giao nhau giữa sông Trường và sông Lò Bó trước khi hòa vào dòng nước sông Thoa đổ ra biển qua cửa Mỹ Á. Nhờ thế nên lượng tôm, cá khá phong phú, là nguồn thực phẩm chủ yếu hiện diện trong bữa cơm của người dân quanh vùng.

Những bậc cao niên kể rằng: Thuở trước, nhiều người ở nơi khác đến đây mưu sinh với nghề bè rớ đánh bắt cá, tôm trên đầm. Họ mua những cây tre còn tươi, dùng rựa trảy sạch mắt rồi xếp sát vào nhau. Sau đó, họ đặt 4 – 5 đà ngang rồi dùng dây mây rừng buộc chặt từng cây tre vào đà với chiều rộng từ 3 – 4m.

Những chiếc bè vững chãi, đủ sức ngâm mình trong nước, dãi dầu mưa nắng hàng chục năm được kết nối từ 4 – 5 lớp tre như thế xếp chồng lên nhau. Phía đằng sau, họ làm một khoang như khoang thuyền là nơi trú ngụ và sinh hoạt cho cả gia đình. Trước mũi bè là giàn rớ khá chắc chắn để đánh bắt cá, tôm.

Đêm tối, cả xóm bè rớ treo đèn sáng rực, lấp lóa trên mặt đầm để dẫn dụ cá vào tấm lưới khá lớn cột vào bốn thân tre dài. Mỗi lần hạ và cất rớ bắt cá, tôm kéo dài khoảng mươi phút với sự tham gia của nhiều thành viên trong gia đình nên khung cảnh rất nhộn nhịp. Những chú cá mơ màng dưới ánh đèn chợt quẫy tung tóe, lấp lánh vảy bạc khi tấm lưới được kéo lên khỏi mặt nước.

Thuở ban đầu, dân xóm bè rớ mưu sinh và cư ngụ ngay trên bè neo đậu trong đầm. Họ chỉ lên bờ bán cá, tôm và mua những vật dụng cần thiết cho cuộc sống thường ngày. Lâu dần, tình cảm giữa họ cùng với người dân trên bờ gắn bó mật thiết như anh em họ hàng. Họ chia sẻ mớ cá, tôm tươi rói vừa vớt lên khỏi mặt nước và nhận lại thúng lúa vừa gặt, rổ khoai vừa đào trên vùng đất gò đồi.

Thương cảm kiếp sống lênh đênh trên đầm nước, quan lại và cư dân bản địa đã nhường cho họ khu đất khá rộng để lập làng và sẻ chia ruộng lúa nước, đất gò đồi để họ làm kế sinh nhai. Đời nối tiếp đời, họ an cư trên vùng quê nặng nghĩa ân tình. Xóm bè rớ thuở trước chìm dần vào dĩ vãng.
Dulichgo
Hậu duệ của họ giờ đã quần tụ bên bờ đầm thành xóm làng trù phú yên vui. Sớm mai, con trẻ tung tăng cắp sách đến trường thay cho những bé thơ quẩn quanh trên chiếc bè thuở trước. Nhiều người đỗ cử nhân, tiến sỹ, góp sức xây dựng quê hương, đất nước, sống phương xa nhưng lòng luôn hướng về quê nhà.

2. Đầm Lâm Đen thuở trước giờ vẫn lắm cá, nhiều tôm, là nơi mưu sinh của nhiều người với việc giăng lưới, đặt đăng nò… Tôi đã có dịp trải nghiệm khi cùng với người bạn đi dỡ đăng nò bắt tôm, cá trong đêm đông rét buốt. Gần 3 giờ sáng, tôi cùng với bạn và mẹ của anh cuốc bộ hơn 1km, từ nhà đến bờ đầm, những cơn gió phả vào mặt lạnh buốt.

Đêm tối, ven đầm vắng lặng tạo nên khung cảnh hoang vu. Tôi phụ anh đẩy chiếc ghe nhỏ xuống nước, chân giật thót như chạm phải điện khi lội vào làn nước lạnh như băng giá. Anh ái ngại: “Hay là chú ngồi trên bờ, trùm kín áo mưa cho đỡ lạnh, không khéo lại nhiễm bệnh đấy!”. Nhưng tôi vẫn nhất quyết bước lên ghe.

Anh đứng phía sau, dang tay chống sào, chiếc ghe lướt nhẹ trên mặt nước dần xa bờ. Những cơn sóng nhỏ vỗ nhẹ vào mạn ghe cùng với tiếng gõ nhịp của những người chài lưới làm lay động mặt đầm mênh mông nước giữa đêm tối.
Dulichgo
Anh tranh thủ giảng giải: “Đánh bắt cá bằng đăng nò dùng lưới nhựa đan dày, cột vào hàng cọc tre cắm xuống đáy với chiều dài mỗi giàn từ 15 – 20m, cao 1,2m. Phần cuối đặt 2 trái nò với khung bằng sắt và lưới nhựa nối liền với lưới chắn. Cá bơi men theo lưới rồi chui vào trái nò ở phần cuối giàn và nếu là cá lớn thì bị nhốt lại, không thể bơi trở ra. Để tôm, cá vào nhiều phải luôn di chuyển giàn nò phù hợp với mức nước trong đầm”.

Làn gió đêm mang hơi nước lạnh buốt dù đã choàng mũ len với vài lớp quần, áo và cả chiếc áo che mưa khá dày. Chiếc máy ảnh trên tay tôi cứ run rẩy cùng với sương đêm bao phủ làm cho khung hình càng thêm mờ ảo.

Anh bạn vẫn dầm mình trong làn nước lạnh với mức từ đầu gối đến bụng đổ từng trái nò vào ghe. Những chú tôm, cá nhỏ xíu búng mình như muốn trốn chạy dưới ánh đèn pin lấp lóa. Mẹ anh nhanh tay phân riêng từng loại tôm đất, cá và cua “để chúng vẫn còn tươi rói khi đến tay người mua”. Mỗi đêm, gia đình anh kiếm được khoảng 150 nghìn đồng, khoản thu nhập đáng kể của người dân quê.

Tôi cũng đã ngủ bên bờ đầm cùng những người chăn vịt trong một đêm cuối hạ. Đêm đen như mực. Tiếng sấm chớp vang vọng phía trời xa. Cánh đồng rộng hàng trăm hécta hoang vắng đến rợn người. Ánh sáng của chiếc đèn pin quét vào màn đêm để xua đuổi bầy chó hoang cứ lảng vảng gần chòi nhốt vịt. Ban ngày, họ vác sào rong ruổi theo đàn vịt và đến tối thì ngủ luôn ngoài đồng để canh chừng chó hoang và ngăn ngừa kẻ trộm.
Dulichgo
Câu chuyện luôn bị ngắt quãng bởi những tiếng động lạ và tiếng kêu hốt hoảng của bầy vịt. “Chúng tôi lùa vịt đi nhiều xứ đồng để nhặt lúa rơi vãi sau vụ gặt. Nhưng đến mùa khô thì phải chuyển vịt về chăn thả và nhốt ở đồng Bể, cạnh đầm Lâm Bình này cho vịt có nước uống và bơi lội. Bởi vì, ở những nơi khác nước khô cạn nên dễ phát sinh dịch bệnh… Sau 3 tháng lội bộ theo hơn 1.000 con vịt nếu may mắn thì kiếm được khoản lãi trên 10 triệu đồng, gặp lúc vịt mắc dịch bệnh thì phải chịu lỗ vốn” – anh Nguyễn Hiệp nói.

3. Khung cảnh đầm Lâm Bình khá thơ mộng và yên bình với làng quê, ruộng đồng bao quanh. Phía đông là dãy núi Dâu như tòa thành án ngữ ngăn những trận cuồng phong từ biển, phía tây là dãy núi Làng che chắn bão dông. Nắng ban mai trườn qua khỏi đỉnh núi Dâu rọi xuống đầm phản chiếu mặt nước lấp lánh. Cư dân ở những xóm làng ven đầm hứng làn gió mát lành giữa trưa nắng oi ả, xua đi bao mệt nhọc.

Chiều phai nắng, sóng lăn tăn làm cho những ngọn cỏ dập dềnh như đùa vui trên mặt nước. Những đám cỏ năn xanh non tơ phất phơ trước gió chiều. Từng đàn cỏ trắng thong dong tìm mồi ven bờ đầm tạo nên khung cảnh yên bình nơi đồng quê. Những con chim nước cần mẫn kiếm ăn gợi lên hình ảnh người dân quê chịu thương chịu khó lặn lội mưu sinh trên đồng.

Xa xa, nhiều ngư dân chèo ghe giăng lưới bắt cá trên mặt đầm. Những âm thanh nhịp nhàng, dồn dập phát ra từ thanh gỗ gõ vào mạn ghe vang vọng trên đầm nước mênh mông. Khi những tia nắng cuối cùng tắt sau ngọn núi Làng, hoàng hôn bao phủ mặt đầm làm cho cảnh vật mờ ảo, lãng đãng khói sương.
Dulichgo
Nằm cạnh Quốc lộ 1 nên đầm Lâm Bình sẽ là nơi thu hút du khách đến thưởng ngoạn nếu được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch. Du khách sẽ thỏa lòng khi ngắm “chim trời, cá nước” và thưởng thức món ngon chế biến từ các loại hải sản vừa vớt lên khỏi mặt nước tại hàng quán ven đầm. Nhưng khung cảnh nơi đây giờ còn khá hoang sơ tựa nàng thôn nữ vẫn còn chìm trong giấc mộng ngàn năm. Cần “chiếc đũa thần kỳ” đánh thức tiềm năng đó!

Theo Trang Thy (báo Quảng Ngãi)
Du lịch, GO!